Dịch trong bối cảnh "CHẤN THƯƠNG MẶT" trong tiếng việt-tiếng anh. ĐÂY rất nhiều câu ví dụ dịch chứa "CHẤN THƯƠNG MẶT" - tiếng việt-tiếng anh bản dịch và động cơ cho bản dịch tiếng việt tìm kiếm.
Sau đây là một số từ vựng tiếng Anh giúp các bạn có thể tìm hiểu thông tin, trao đổi giao tiếp bằng tiếng Anh về tình trang chấn thương sọ não. 1. Chấn thương sọ não tiếng Anh là gì? Trong tiếng Anh chấn thương sọ não có nghĩa là " Traumatic brain injury". 2. Các từ vựng
Tolisso chấn thương toàn bỏ lỡ World Cup xoilac9.com ngày phát hành:2022-10-17 19:08:48|xoilac tv Theo tin tức mới nhất được cung cấp vì truyền thông Pháp "L'Equipe", ngôi sao của Lyon, Tolisso đã hoàn toàn vắng mặt tại World Cup 2022 Qatar do ảnh hưởng của chấn thương cơ bắp và căng
Chính xác là, chấn thương tiếng Anh gây ra bởi phương pháp giảng dạy. Những phương pháp này làm học sinh bối rối và tạo ra sự căng thẳng. Những phương pháp này gây tổn hại đến khả năng nói tiếng Anh của học sinh. Những phương pháp này không hiệu quả – chúng không có
Do trải qua một chấn thương ở độ tuổi trẻ hơn có thể làm cho sụn. [] Experiencing an injury at a younger age can make your cartilage. [] Chấn thương tâm lý đặc biệt là chấn thương ở độ tuổi trẻ cũng có thể góp phần. [] Psychological trauma especially trauma at a young age may also
Bạn đã xem: chấn thương sọ não tiếng anh là gì. 04:34 Aug 15, 2017: Vietnamese lớn English translations. Medical - Medical (general)
Ưu điểm của khóa học tiếng Anh thương mại Aten – Một Giải Pháp Đào Tạo Và Giảng Dạy Tiếng Anh Hiệu Quả Cho Doanh Nghiệp. Aten dạy tiếng Anh thương mại bằng cách sử dụng một hệ thống tài chính hợp lý. Kiểm tra nhân viên và nhiệt độ để tạo ra âm thanh bình thường.
YLPq. Từ điển Việt-Anh sự chấn thương vi sự chấn thương = en volume_up injury chevron_left Bản dịch Người dich Cụm từ & mẫu câu open_in_new chevron_right VI Nghĩa của "sự chấn thương" trong tiếng Anh sự chấn thương {danh} EN volume_up injury Bản dịch VI sự chấn thương {danh từ} sự chấn thương từ khác sự làm hại, vết thương, thương tật volume_up injury {danh} Cách dịch tương tự Cách dịch tương tự của từ "sự chấn thương" trong tiếng Anh sự danh từEnglishengagementsự chấn động danh từEnglishconvulsion Hơn Duyệt qua các chữ cái A Ă Â B C D Đ E Ê G H I K L M N O Ô Ơ P Q R S T U Ư V X Y Những từ khác Vietnamese sự chạy tán loạnsự chảisự chảysự chảy máusự chảy nhỏ giọtsự chảy rasự chảy vàosự chấm biếmsự chấm dứtsự chấm vào nước mắm sự chấn thương sự chấn độngsự chấp nhậnsự chấp thuậnsự chất đốngsự chậm trễsự chắc chắnsự chẵnsự chặn lạisự chặn mua trướcsự chế commentYêu cầu chỉnh sửa Động từ Chuyên mục chia động từ của Chia động từ và tra cứu với chuyên mục của Chuyên mục này bao gồm cả các cách chia động từ bất qui tắc. Chia động từ Cụm từ & Mẫu câu Chuyên mục Cụm từ & Mẫu câu Những câu nói thông dụng trong tiếng Việt dịch sang 28 ngôn ngữ khác. Cụm từ & Mẫu câu Treo Cổ Treo Cổ Bạn muốn nghỉ giải lao bằng một trò chơi? Hay bạn muốn học thêm từ mới? Sao không gộp chung cả hai nhỉ! Chơi Let's stay in touch Các từ điển Người dich Từ điển Động từ Phát-âm Đố vui Trò chơi Cụm từ & mẫu câu Công ty Về Liên hệ Quảng cáo Đăng nhập xã hội Đăng nhập bằng Google Đăng nhập bằng Facebook Đăng nhập bằng Twitter Nhớ tôi Bằng cách hoàn thành đăng ký này, bạn chấp nhận the terms of use and privacy policy của trang web này.
Bệnh nhân đã trải qua một chấn thương ở mặt khi còn trẻ cả hàm và mũi bị gãy, nhưng các bác sĩ cho biết chấn thương này có lẽ không làm cho răng mọc ở patient had experienced a facial trauma in his youthboth his jaw and nose were fractured, but the doctors said this injury probably didn't cause the tooth to grow in his trợ thiên tai lẫn nhau đã hợp tác với CAMBU trong hai năm qua với những thứ như phòng khám pop- up, tạo ra các tàiliệu giáo dục về giảm thiểu chấn thương ởtrẻ em và hỗ trợ điều hướng quan Aid Disaster Relief has partnered with CAMBU over the last two years with such things as pop-up clinics,creating educational materials about mitigating trauma in children, and assisting with navigating cứu cho thấy rằng loại chấn thương ởtrẻ em này để lại dấu hiệu sâu sắc, dẫn đến các vấn đề bao gồm rối loạn căng thẳng sau chấn thương, trầm cảm, lo âu và lạm dụng dược suggests that this type of trauma in childhood leaves deep marks, giving rise to issues including post-traumatic stress disorder, depression, anxiety, and substance abuse. của bạn bị phá vỡ nhanh hơn an injury ata younger age can make your cartilage break down much faster. vào sự phát triển của trauma, especially trauma at a young age, may also contribute to the development of tai nạn liên quan đến đồ chơi như là sử dụng xe máy tay ga đạp chân, xe kéo và xe đạp ba bánh tăng lên theo độ tuổi của trẻ,chiếm khoảng 42% các ca chấn thươngở trẻ em từ 5 đến 17 tuổi, và 28% trường hợp nằm trong nhóm trẻ dưới 5 involving riding toys such as foot-powered scooters, wagons and tricycles increased as children got older, accounting for 42 percent of injuries among children aged 5 to 17, and 28 percent of injuries among children younger than thương đầu lạm dụng AHT, thường được gọi là hội chứng em bé bị lắc SBS, là một chấn thương ở đầu trẻ em do người khác gây ra.[ 1] Các triệu chứng có thể từ tinh tế đến rõ ràng.[ 1] Các triệu chứng có thể bao gồm nôn mửa hoặc em bé sẽ không ổn head traumaAHT, commonly known as shaken baby syndromeSBS, is an injury to a child's head caused by someone else.[1] Symptoms may range from subtle to obvious.[1] Symptoms may include vomiting or a baby that will not settle.[1] Often there are no visible signs of trauma.[1] Complications include seizures, visual impairment, cerebral palsy, and cognitive kê cho thấy phần lớn cácchấn thương đầu xảy ra ở trẻ em dưới mười lăm tuổi và tử vong do chấn thương đầu có thể tránh được nếu mũ bảo hiểm trẻ em bị show that majority of head injuries happened among children younger than fifteen years old and deaths caused by head injuries could have been avoided if kids helmets were quả của chấn thương khi sinh ởtrẻ sơ sinh, lý do phải làm of birth trauma in newborns, reasons for what to việc vệ sinh khó và nguy cơ nhiễm trùng đường tiết niệu,Apart from poor hygiene and the risk of urinary tract infection,a buried penis raises the risk of psychological and social trauma in xương cánh tay là một chấn thương phổ biến xảy ra ở cả trẻ em và người dù tỷ lệ chấn thương đầu ở trẻ em cao hơn, chỉ có mười lăm phần trăm được báo cáo là đội mũ bảo hiểm trẻ em khi đi xe the higher rate of head injury among children, only fifteen percent was reported to be wearing kids helmet when riding their xương cánh tay là một chấn thương phổ biến xảy ra ở cả trẻ em và người dụ nếu chấn thương xảy ra ở ngón tay, trẻ có thể khó di chuyển các ngón tay một khoảng thời example, if the injury occurs in your finger, you might not be able to movethe finger for a period of có thể được sử dụng trong trường hợp chấn thương đột ngột cũng ở trẻ em, trong trường hợp vết bầm tím, trật can be used in case of a sudden injury also in children, in the case of bruises, ngăn ngừa chấn thương thể thao ở trẻ em bằng cách chú ý đến sự phục hồi của chúng và tránh chuyên về một hoạt động mạnh quá prevent sports injuries in kids by paying attention to their recovery- and avoiding specializing in one activity too phải lúc nào cũng dễ dàng nhận ra chấn thương mắt- đặc biệt là ởtrẻ not always easy to identify an eye injury- especially in a child. trộn sự hình thành men răng khi răng vĩnh cửu của trẻ em vẫn đang phát triển và có thể dẫn đến xuất hiện màu or sports injuries in young children can disturb the formation of tooth enamel when kids' permanent teeth are still developing, and can result in a grayish tôi cam kết cứu người vào năm 2025 bằng cách giảm một nửa số thai chết lưu,tử vong mẹ và trẻ sơ sinh và chấn thương não nghiêm trọng ởtrẻ sơ sinh.”.We are committed to saving 4,000 lives by 2025 by halving stillbirths,maternal and infant deaths and serious brain injuries in thật Trên thực tế, đạp xe đạp mới lànguyên nhân chủ yếu gây chấn thương đầu ởtrẻ em ở mọi độ tuổi, tuy nhiên bóng đá cũng là một trong những môn thể thao hàng đầu thường gây chấn thương cho trẻ em từ 12- 15 Actually, biking is the leading cause of concussions in kids of all ages, but football is at the top of the list for organized sports for children 12 to 15 years of head trauma, including shaken baby syndrome, is a serious type of head injury.
chấn thươngtrạng thái của cơ thể bị một tác nhân bên ngoài gây những tổn thương dưới nhiều hình thái và mức độ khác nhau trong các tai nạn hàng ngày sinh hoạt, lao động, giao thông, vv.. Tác nhân gây CT có thể là các yếu tố cơ học vật sắc, nhọn, vật khối tù, mảnh bom đạn, súng nổ, lực đè ép, nghiến, sự thay đổi đột biến và trên mức giới hạn của áp lực, vv., các yếu tố nóng, lạnh, hoá học, lí học, vv. Tuỳ mức độ và hình thái tổn thương, có thể gặp CT kín da, niêm mạc không bị rách đứt nhưng có thể có các tổn thương các phần cơ thể dưới da, dưới niêm mạc hoặc nội tạng; CT mở khi da, niêm mạc, các phần mềm hoặc cứng bị rách đứt, gãy, hình thành một vết thương để lộ phần cơ thể bị tổn thương ở dưới. Tuỳ theo vị trí tổn thương mà phân loại các CT tứ chi, sọ não, cột sống, ngực, bụng, hệ niệu, sinh dục, mặt hàm, răng miệng, tai - mũi - họng, mắt, vv. Cần phải sơ cứu ngay tại hiện trường, sau khi xảy ra tai nạn, cho qua khỏi cơn sốc đầu tiên. Sau đó, gửi ngay đi cấp cứu ở bệnh viện. Thuật ngữ CT còn được dùng trong tâm lí học và tâm thần bệnh học..., vd. CT tâm lí. ht. Thương tổn cơ thể do tác động bên ngoài. Xe bị đụng ngã, chấn thương ở đầu.
Ổ bụng có thể bị tổn thương trong nhiều loại chấn thương khác nhau; tổn thương có thể khu trú ở bụng hoặc đi kèm với chấn thương nặng, đa chấn thương khác. Tính chất và mức độ nghiêm trọng của chấn thương bụng rất khác nhau tùy thuộc vào cơ chế và lực tác động đi kèm, do đó tỉ lệ tử vong và chỉ định phẫu thuật nhìn chung có xu hướng phản ánh không chính xác. Chấn thương thường được phân loại dựa vào loại cấu trúc cơ quan bị tổn thương Thành bụng Tạng đặc gan, lách, tụy, thậnTạng rỗng dạ dày, ruột non, ruột già, tử cung, bàng quangHệ mạch Một số tổn thương đặc hiệu gây ra bởi chấn thương bụng kín được thảo luận ở mục khác, bao gồm các chấn thương gan Tổn thương gan Tổn thương gan có thể là kết quả của chấn thương đụng dập hoặc xuyên thủng. Các bệnh nhân có đau bụng, đôi khi lan lên vai, và cảm ứng phúc mạc. Chẩn đoán được thực hiện bằng CT hoặc siêu âm... đọc thêm , lách Chấn thương lách Splenic Injury Chấn thương lách thường do đụng dập vào ổ bụng. Bệnh nhân thường bị đau bụng, đôi khi lan lên vai, và có cảm ứng phúc mạc. Chẩn đoán được thực hiện bằng CT hoặc siêu âm. Điều trị bằng theo dõi... đọc thêm , và đường niệu dục Chấn thương bàng quang Chấn thương và vết thương vào vùng bụng dưới, khung chậu hoặc tầng sinh môn là những nguyên nhân gây ra tổn thương bàng quang. Trong đó, chấn thương là cơ chế thường gặp hơn, thường do sự giảm... đọc thêm . Chấn thương bụng cũng thường được phân loại theo cơ chế chấn thương Đụng dậpXuyên thấuChấn thương đụng dập có thể gây ra bởi một cú đánh trực tiếp ví dụ đá, va chạm với một vật thể ví dụ ngã đập bụng vào tay lái xe đạp hoặc giảm tốc đột ngột ví dụ ngã cao, va chạm xe Lách là tạng tổn thương thường gặp nhất, theo sau đó là gan và các tạng rỗng điển hình là ruột non.Vết thương xuyên thấu có thể có hoặc không rách phúc mạc và thậm chí nếu có, cũng có thể không gây tổn thương các tạng. Vết thương do dao đâm bạch khí ít gây tổn thương các tổ chức trong ổ bụng hơn vết thương do đạn bắn; trong cả hai trường hợp, bất kỳ tổ chức nào cũng có thể bị tổn thương. Chấn thương xuyên thấu ngực dưới khoang liên sườn thứ tư hoặc đường núm vú cũng nên được đánh giá là vết thương có khả năng là ổ bụng vì vị trí của các cơ quan ổ bụng trong lồng ngực trong chu kỳ hô hấp. Các thương tổn đụng dập hoặc xuyên thấu có thể gây giằng xé hoặc gây vỡ các cấu trúc trong ổ bụng. Chấn thương đụng dập có thể chỉ gây ra tụ máu trong các tạng đặc hoặc ở thành các tạng rách hoặc vỡ tạng rỗng làm các thành phần chứa trong dạ dày, ruột, bàng quang vào khoang phúc mạc, gây nên viêm phúc mạc. Biến chứng muộn của chấn thương bụng bao gồm Vỡ khối máu tụÁp xe trong ổ bụngTắc ruộtRò mật và/hoặc tụ mật trong nhu mô ganHội chứng chèn ép khoang ổ bụngÁp-xe, tắc ruột, hội chứng chèn ép khoang bụng, và thoát vị vết mổ cũng có thể là biến chứng của điều trị. Máu tụ thường tự tiêu trong vài ngày tới vài tháng, phụ thuộc vào kích cỡ và vị trí. Khối máu tụ ở lách Chấn thương lách Splenic Injury Chấn thương lách thường do đụng dập vào ổ bụng. Bệnh nhân thường bị đau bụng, đôi khi lan lên vai, và có cảm ứng phúc mạc. Chẩn đoán được thực hiện bằng CT hoặc siêu âm. Điều trị bằng theo dõi... đọc thêm và, ít gặp hơn, khối máu tụ ở gan Tổn thương gan Tổn thương gan có thể là kết quả của chấn thương đụng dập hoặc xuyên thủng. Các bệnh nhân có đau bụng, đôi khi lan lên vai, và cảm ứng phúc mạc. Chẩn đoán được thực hiện bằng CT hoặc siêu âm... đọc thêm có thể vỡ, thường vài ngày đầu sau khi bị thương đôi khi có thể lên đến vài tháng có thể gây ra các xuất huyết trầm trọng. Khối máu tụ thành ruột thường vỡ trong 48-72 giờ sau chấn thương, giải phóng các thành phần chứa trong ruột vào khoang phúc mạc gây viêm phúc mạc, tuy nhiên thường không gây xuất huyết nặng. Khối máu tụ ở thành ruột hiếm khi gây nên hẹp lòng ruột, thường sau nhiều tháng tới nhiều năm, mặc dù có một số trường hợp tắc ruột sớm sau 2 tuần theo sau chấn thương đụng dập đã được báo cáo. Hội chứng chèn ép khoang bụng tương tự như hội chứng chèn ép khoang ở các chi Hội chứng chèn ép khoang Hội chứng khoang là hiện tượng tăng áp lưc mô mềm trong khoang kín, dẫn đến thiếu máu mô. Triệu chứng sớm nhất là đau quá mức thương tổn. Chẩn đoán dựa vào lâm sàng, khẳng định bằng đo áp lực... đọc thêm sau khi chấn thương chỉnh hình. Trong hội chứng chèn ép khoang bụng, sự rò rỉ mạch máu ở mạc treo và ruột do sốc Sốc Sốc là tình trạng suy giảm tưới máu cơ quan với kết quả là rối loạn chức năng tế bào và tử vong. Cơ chế có thể làm giảm khối lượng tuần hoàn, giảm cung lượng tim, và giãn mạch, đôi khi shunt... đọc thêm , thủ thuật phẫu thuật ổ bụng kéo dài, tổn thương thiếu máu cục bộ- tái tưới máu và hội chứng đáp ứng viêm hệ thống gây ra phù các mô trong ổ bụng. Mặc dù có nhiều không gian cho sự giãn nở trong khoang phúc mạc hơn trong khoang ở chi, sự phù nề, và đôi khi là dịch cổ trướng Cổ chướng Cổ trướng là dịch tự do trong khoang phúc mạc. Nguyên nhân phổ biến nhất là tăng áp lực tĩnh mạch cửa. Các triệu chứng thường do bụng chướng. Chẩn đoán dựa trên khám lâm sàng và siêu âm hoặc... đọc thêm , cuối cùng cũng làm tăng áp lực ổ bụng được định nghĩa là khi áp lực ổ bụng > 20mmHg, dẫn tới đau, thiếu máu tạng và rối loạn chức năng tạng. Sự thiếu máu ruột càng làm cho sự rò rỉ mạch máu trở nên trầm trọng, gây ra một vòng xoắn bệnh lý. Các cơ quan khác bị ảnh hưởng bao gồm Thận gây suy thậnPhổi áp lực ổ bụng cao có thể cản trở hô hấp, gây giảm oxy máu và tăng carbonic máu. Hệ thống tim mạch áp lực ổ bụng cao cản trở máu tĩnh mạch chi dưới trở về tim, gây hạ huyết áp.Hệ thần kinh trung ương áp lực nội sọ tăng lên, có thể là do tăng áp lực tĩnh mạch trung tâm ngăn cản sự dẫn máu tĩnh mạch từ não về, gây giảm sự tưới máu não dẫn đến làm trầm trọng hơn các tổn thương nội sọ. Triệu chứng và Dấu hiệu Nhìn Các tổn thương xuyên thấu theo định nghĩa gây ra vết rách ở da, nhưng các bác sĩ lâm sàng phải chắc chắn kiểm tra lưng, mông, sườn và phần dưới ngực cùng với vùng bụng, đặc biệt là khi có súng hoặc vũ khí cháy nổ đi kèm. Các tổn thương da thường nhỏ, chảy máu ít, mặc dù thỉnh thoảng có những vết thương rất lớn, có thể lòi các tạng trong ổ bụng ra ngoài. Chấn thương đụng dập có thể gây ra vết bầm máu ví dụ như vết bầm máu ngang, thẳng được gọi là dấu hiệu dây đai an toàn, nhưng dấu hiệu này có độ nhạy và độ đặc hiệu thấp. Chướng bụng sau chấn thương thường chỉ ra tình trạng xuất huyết nặng 2 đến 3 L, nhưng chướng bụng cũng có thể cũng không rõ ràng ngay cả ở những bệnh nhân đã mất nhiều đơn vị máu. Sờ Cảm ứng phúc mạc thường xuất hiện. Dấu hiệu thực thể này rất không đáng tin cậy bởi vì các vết đụng giập ở thành bụng có thể bị đau khi chạm vào và nhiều bệnh nhân có chấn thương ổ bụng nhưng khi thăm khám không có dấu hiệu rõ ràng tổn thương khác hoặc nếu họ bị mất chú ý bởi các thương tích khác hoặc đã thay đổi bộ phận nhận cảm hoặc nếu tổn thương chủ yếu của họ là sau phúc mạc. Mặc dù độ nhạy không cao nhưng khi thăm khám phát hiện các dấu hiệu phúc mạc ví dụ, co cứng thành bụng, phản ứng thành bụng gần như khẳng định đến sự có mặt của máu trong ổ bụng và/hoặc dịch tiêu hóa trong ổ bụng. Thăm khám trực tràng có thể thấy máu tụ do tổn thương xuyên thấu vùng đại tràng, và có thể có máu ở lỗ niệu đạo hoặc máu tụ đáy chậu do chấn thương đường sinh dục tiết niệu. Mặc dù những dấu hiệu này khá đặc hiệu nhưng chúng không thật sự nhạy. Đánh giá lâm sàngThường dựa vào CT hoặc siêu âm Sau khi đánh giá lâm sàng, một vài bệnh nhân thật sự cần mở ổ bụng thăm dò hơn là xét nghiệm, bao gồm cả những người Viêm phúc mạcSự rối loạn huyết động do vết thương thấu bụng Vết thương súng bắn hầu hết Sự lòi tạng ra ngoàiTuy nhiên, hầu hết bệnh nhân không có các biểu hiện rõ ràng dương tính hay âm tính, do đó cần phải có các test để đánh giá thương tổn trong ổ bụng. Các lựa chọn test bao gồm Chẩn đoán hình ảnh siêu âm, CTThủ thuật thăm dò vết thương, chọc rửa ổ bụng chẩn đoánNgoài ra, bệnh nhân thường cần phải chụp X-quang ngực để tìm khí tự do dưới cơ hoành dấu hiệu chỉ ra có thủng tạng rỗng và dấu hiệu vòm hoành lên cao gợi ý vỡ cơ hoành. Chụp X-quang khung chậu được thực hiện ở bệnh nhân đau vùng chậu hoặc có sự giảm tốc độ đáng kể và thăm khám lâm sàng không đáng tin cậy. Phương pháp được lựa chọn để phát hiện tổn thương trong ổ bụng sẽ thay đổi theo cơ chế chấn thương và kết quả khám lâm sàng. Không nên thăm dò mù các vết thương bằng dụng cụ cùn ví dụ, gạc, ngón tay. Nếu phúc mạc có bị rách, thăm dò có thể gây nhiễm trùng hoặc gây ra thương tổn nặng thương bị đâm bao gồm cả vết thương xuyên ở vùng bụng trước giữa hai đường nách trước ở những bệnh nhân ổn định về mặt huyết động và không có các dấu hiệu phúc mạc có thể được thăm dò tại chỗ. Thông thường, bệnh nhân được gây tê tại chỗ và vết thương được mở vừa đủ rộng để cho phép quan sát được toàn bộ đường đi. Nếu như phần mạc cơ phía trước bị xuyên thủng, bệnh nhân sẽ được nhập viện để làm các thăm khám lâm sàng ; thủ thuật mở ổ bụng thăm dò sẽ được thực hiện nếu có các dấu hiệu phúc mạc hoặc bệnh nhân có thay đổi huyết động. Nếu cân không bị thủng, vết thương sẽ được làm sạch là khâu lại, sau đó bệnh nhân sẽ được xuất viện. Ngoài ra, một số cơ sở tiến hành chụp CT, hoặc chọc rửa ổ bụng chẩn đoán Cách rửa khoang phúc mạc để chẩn đoán DPL Rửa khoang phúc mạc để chẩn đoán DPL là một thủ thuật cấp cứu xâm lấn được sử dụng để phát hiện tràn máu phúc mạc và giúp xác định nhu cầu phẫu thuật mở bụng sau chấn thương bụng. Một ống... đọc thêm DPL tuy nhiên ít phổ biến để đánh giá vết thương có xuyên thủng phúc mạc. CT được khuyên dùng cho các vết thương bị đâm vào vùng sườn giữa đường nách trước và nách sau hoặc lưng giữa hai đường nách phía sau vì chấn thương đến các cấu trúc sau phúc mạc bên dưới các vùng này có thể bị bỏ qua khi kiểm tra bụng và/hoặc chọc rửa ổ bụng chẩn các vết thương do đạn bắn, hầu hết các bác sĩ lâm sàng thực hiện mở ổ bụng thăm dò trừ khi vết thương đi xượt qua, đồng thời không có các dấu hiệu viêm phúc mạc và hạ huyết áp. Tuy nhiên, một số cơ sở nơi ưu tiên điều trị bảo tồn với các bệnh nhân chỉ có tổn thương tạng đặc thường là gan sẽ cho tiến hành CT với các bệnh nhân toàn trạng ổn định có vết thương do đạn bắn. Việc thăm dò vết thương khu trú thường không được thực hiện với các vết thương do đạn bắn. Hầu hết các bệnh nhân bị đa chấn thương và chấn thương nặng và/hoặc rối loạn cảm giác thì cần phải thực hiện các cận lâm sàng sau khi khám lâm sàng. Thông thường, bác sĩ lâm sàng sử dụng siêu âm hoặc CT, đôi khi dùng cả hai. CT thường được thực hiện với chất cản quang đường tĩnh mạch chứ không phải đường miệng; phương pháp này rất nhạy để phát hiện dịch tự do và tổn thương tạng đặc, nhưng lại kém hơn để đánh giá với các lỗ thủng nhỏ mặc dù tốt hơn so với siêu âm. Ngoài ra, CT có thể đồng thời phát hiện tổn thương xương cột sống hoặc xương chậu. Tuy nhiên, CT khiến các bệnh nhân bị nhiễm xạ, điều này cần được cân nhắc ở trẻ em, những bệnh nhân có thể cần chụp lại ví dụ những bệnh nhân ổn định với một lượng dịch nhỏ và các bệnh nhân cần vận chuyển ra khỏi khu vực hồi sức. Việc lựa chọn giữa siêu âm và CT dựa trên tình trạng bệnh nhân. Nếu bệnh nhân cần CT để đánh giá vùng cơ thể khác ví dụ cột sống cổ, khung chậu, CT có lẽ là lựa chọn hợp lý để đánh giá vùng bụng. Một số bác sĩ lâm sàng thực hiện FAST trong giai đoạn hồi sức và đẩy thẳng nhà mổ nếu thấy một lượng lớn dịch tự do ổ bụng ở bệnh nhân tụt huyết áp. Nếu kết quả của FAST âm tính hoặc dương tính yếu, nếu vẫn cảm thấy nghi ngờ, bác sĩ lâm sàng sẽ cho tiến hành CT sau khi tình trạng bệnh nhân ổn định. Các vấn đề cần nghi ngờ bao gồm đau bụng tăng hoặc dự kiến không có khả năng theo dõi lâm sàng của bệnh nhânví dụ như bệnh nhân cần phải dùng giảm đau hoặc sẽ trải qua các cuộc phẫu thuật kéo dài. Những bệnh nhân có triệu chứng đau bụng tăng lên đột ngột trong những ngày sau chấn thương nên nghi ngờ có chảy máu từ các khối máu tụ trong tạng đặc hoặc thủng tạng rỗng muộn, đặc biệt nếu họ có nhịp tim nhanh và/hoặc hạ huyết áp. Dấu hiệu đau trầm trọng lên trong ngày đầu tiên gợi ý thủng tạng rỗng hoặc, nếu sau vài ngày, gợi ý hình thành áp xe, đặc biệt nếu kèm theo sốt và tăng bạch cầu. Trong cả hai trường hợp, siêu âm hoặc CT thường được tiến hành nếu bệnh nhân ổn định, sau đó sẽ tiến hành phẫu chấn thương vùng bụng nghiêm trọng, nên nghi ngờ hội chứng chèn ép khoang bụng Tài liệu tham khảo chẩn đoán Ổ bụng có thể bị tổn thương trong nhiều loại chấn thương khác nhau; tổn thương có thể khu trú ở bụng hoặc đi kèm với chấn thương nặng, đa chấn thương khác. Tính chất và mức độ nghiêm trọng của... đọc thêm ở các bệnh nhân có lượng nước tiểu giảm, suy hô hấp, và/hoặc hạ huyết áp, đặc biệt nếu bụng chướng, căng cứng tuy nhiên, các dấu hiệu thực thể không thật sự nhạy Bởi vì các biểu hiện như vậy có thể là dấu hiệu của sự mất bù do các tổn thương cơ bản, cần phải có sự nghi ngờ cao ở những bệnh nhân có nguy cơ cao. Bởi vì các biểu hiện như vậy có thể là dấu hiệu của sự mất bù do các tổn thương cơ bản, cần phải có sự nghi ngờ cao ở những bệnh nhân có nguy cơ cao. Chẩn đoán đòi hỏi phải đo áp lực ổ bụng, thường đo bằng cách dùng một đầu dò áp lực kết nối với ống thông bàng quang; giá trị > 20 mm Hg được chẩn đoán tăng áp lực ổ bụng và cần được lưu ý. Khi bệnh nhân có dấu hiệu rối loạn chức năng của cơ quan ví dụ, hạ huyết áp, thiếu oxy/tăng acid uric, giảm lượng nước tiểu, tăng áp lực nội sọ, cần thực hiện phẫu thuật giảm áp. Thông thường bụng sẽ được mở ra với vết thương được bọc bởi băng hút chân không hoặc các thiết bị tạm thời khác. Como JJ, Bokhari F, Chiu WC, et al Practice management guidelines for selective nonoperative management of penetrating abdominal trauma. J Trauma 683721-733, 2010. doi Đôi khi mở bụng để kiểm soát chảy máu, sửa chữa các tạng, hoặc cả haiTắc động mạch hiếm khi xảy ra Theo dõi bắt đầu ở đơn vị hồi sức tích cực [ICU] thường thích hợp cho những bệnh nhân ổn định về huyết động với tổn thương tạng đặc, nhiều tổn thương dạng này có thể tự hồi phục. Bệnh nhân có dịch tự do ở bụng trên phim CT nhưng không có thương tổn cụ thể nào được phát hiện ra cũng có thể được theo dõi nếu không có dấu hiệu phúc mạc. Tuy nhiên, nếu xuất hiện dịch tự do mà không có bằng chứng tổn thương tạng đặc cũng là dấu hiệu thường gặp nhất về mặt hình ảnh trong tổn thương tạng rỗng, mặc dù dấu hiệu này có độ đặc hiệu thấp. Bởi vì theo dõi không phù hợp với trường hợp thủng tạng rỗng bệnh nhân thường tiến đến nhiễm trùng huyết Nhiễm khuẩn huyết và sốc nhiễm khuẩn Nhiễm khuẩn huyết là một hội chứng lâm sàng của rối loạn chức năng cơ quan đe dọa đến tính mạng gây ra bởi một đáp ứng không điều chỉnh được với nhiễm trùng. Trong sốc nhiễm khuẩn, có sự giảm... đọc thêm do viêm phúc mạc nên các bác sỹ lâm sàng nên xem xét chỉ định để tiến hành mở bụng thăm dò đối với các bệnh nhân có tình trạng dịch ổ bụng khu trú diễn biến xấu hoặc không cải thiện lâm sàng trong một thời gian theo dõi. Trong quá trình theo dõi, các bệnh nhân được kiểm tra nhiều lần trong ngày tốt nhất là cùng một bác sỹ khám và đánh giá lại kết quả tổng phân tích máu cell blood count, thông thường từ 4 đến 6 giờ/lần. Đánh giá nhằm phát hiện tình trạng xuất huyết tiến triển và viêm phúc trạng xuất huyết tiến triển được gợi ý bởi Tình trạng rối loạn huyết độngNhu cầu truyền máu liên tục ví dụ hơn 2 đến 4 đơn vị trong khoảng thời gian 12 giờ Sự giảm đáng kể Hematocrit Hct; ví dụ, > 10-12 điểm phần trăm Ý nghĩa của nhu cầu truyền máu và sự thay đổi Hct phụ thuộc phần nào vào cơ quan bị tổn thương và các tổn thương đi kèm khác Ví dụ những thương tổn cũng có thể gây ra mất máu cũng như trữ lượng máu sinh lý của bệnh nhân. Tuy nhiên, các bệnh nhân nghi ngờ đang có xuất huyết ở mức đáng kể nên được xem xét chụp nút mạch hoặc phẫu thuật mở bụng bệnh nhân ổn định thường được chuyển tới khu điều trị thường sau 12 đến 48 giờ, tùy thuộc vào mức độ nghiêm tổn thương ở bụng và các thương tổn phối hợp khác. Chế độ ăn uống sinh hoạt của bệnh nhân được điều chỉnh ở mức độ phù hợp. Thông thường, bệnh nhân có thể được xuất viện về nhà sau 2 đến 3 ngày. Bệnh nhân được hướng dẫn hạn chế vận động mạnh trong ít nhất 6-8 tuần. Không có hướng dẫn rõ ràng đối với những bệnh nhân không có triệu chứng, khi nào thì cần đánh giá về thăm khám hình ảnh trước khi bắt đầu hoạt động như bình thường, đặc biệt là khi nâng vật nặng, chơi lại thể thao, hoặc chấn thương thân trên có thể xảy ra. Các bệnh nhân có tổn thương ở mức độ nặng có nguy cơ cao nhất đối với các biến chứng sau chấn thương và nên có ngưỡng đánh giá thấp nhất để chụp phim lại. Phẫu thuật mở bụng được quyết định không chỉ bởi vì tính chất ban đầu của tổn thương và tình trạng lâm sàng ví dụ, sự mất ổn định về mặt huyết động mà còn do sự mất bù về mặt lâm sàng sau đó. Hầu hết các bệnh nhân có thể có một thủ thuật duy nhất trong thời gian kiểm soát xuất huyết và sửa chữa tổn thương. Tuy nhiên, những bệnh nhân bị chấn thương nhiều trong ổ bụng- họ phải trải qua một quá trình phẫu thuật ban đầu kéo dài thường có xu hướng không tốt, đặc biệt khi họ bị các tổn thương nghiêm trọng khác, hoặc có tình trạng sốc Sốc Sốc là tình trạng suy giảm tưới máu cơ quan với kết quả là rối loạn chức năng tế bào và tử vong. Cơ chế có thể làm giảm khối lượng tuần hoàn, giảm cung lượng tim, và giãn mạch, đôi khi shunt... đọc thêm trong một khoảng thời gian kéo dài, hoặc cả hai. Thủ thuật phẫu thuật ban đầu càng mở rộng và kéo dài thì càng có nhiều khả năng những bệnh nhân như vậy sẽ có nguy cơ cao kết hợp toan chuyển hóa, rối loạn đông máu, hạ thân nhiệt và kéo theo rối loạn chức năng đa cơ quan. Trong những trường hợp như vậy, tử vong có thể được giảm đi nếu ngay từ đầu bác sĩ phẫu thuật tiến hành thủ thuật nhanh chóng hơn gọi là phẫu thuật kiểm soát tổn thương, trong đó có thể kiểm soát xuất huyết và tràn dịch ruột ví dụ bằng cách bọc, buộc, dồn, khâu vắt hoặc kẹp ruột và đóng bụng tạm thời. Đóng tạm thời có thể đạt được bằng cách sử dụng một hệ thống chân không hút kín được cấu thành từ khăn, ống dẫn, và băng vết thương sinh học lớn hoặc thông qua việc sử dụng băng vết thương ở bụng. Sau đó, bệnh nhân sẽ được điều trị ổn định trong ICU và được đưa đi để loại bỏ vỏ bọc và phẫu thuật phần còn lại sau khi đã hồi phục sinh lý bình thường đặc biệt là điều chỉnh pH và nhiệt độ, thường là trong vòng 24 giờ hoặc sớm hơn nếu bệnh nhân xấu đi về mặt lâm sàng mặc dù đã được hồi sức tích cực. Bởi vì những bệnh nhân yêu cầu thủ thuật kiểm soát tổn thương là những người bị chấn thương nặng nhất, tỉ lệ tử vong vẫn còn đáng kể và thường xuất hiện các biến chứng trong ổ bụng sau đó. Tình trạng chảy máu tiến triển đôi khi có thể được dừng lại mà không cần phẫu thuật bằng cách sử dụng phương pháp chụp mạch qua da để làm tắc mạch máu angiographic embolization. Sự cầm máu được tạo ra bằng cách tiêm chất tạo huyết khối ví dụ bột gelatin hoặc cuộn kim loại vào trong mạch máu tổn thương. Mặc dù không có sự đồng thuận hoàn toàn, các chỉ định được chấp nhận cho việc gây tắc mạch máu bao gồm Giả phình mạchGây tắc mạch không được khuyến cáo cho bệnh nhân toàn trạng không ổn định vì tại phòng can thiệp không thể chăm sóc bệnh nhân nặng. Ngoài ra, không nên cố gắng kéo dài việc can thiệp gây tắc mạch ở những bệnh nhân yêu cầu truyền máu liên tục; quyết định phẫu thuật là hợp lý hơn. Tuy nhiên, với sự gia tăng của các phòng phẫu thuật ghép phòng phẫu thuật có khả năng can thiệp mạch, một số bệnh nhân toàn trạng không ổn định có thể trải qua chụp mạch và quyết định phẫu thuật ngay nếu cần. Holcomb JB, Tilley BC, Baraniuk S, et al Transfusion of plasma, platelets, and red blood cells in a 111 vs a 112 ratio and mortality in patients with severe trauma. JAMA 3135471-482, 2015. doi Các biến chứng của chấn thương bụng có thể là cấp ví dụ, chảy máu hoặc muộn ví dụ áp xe, tắc nghẽn, ruột thừa, vỡ khối máu tụ.Thăm khám bụng không cho đánh giá tin cậy mức độ nghiêm trọng của chấn thương bệnh nhân có lộ ruột, sốc do vết thương xuyên bụng, hoặc viêm phúc mạc, tiến hành mở ổ bụng thăm dò ngay để chẩn không có bằng chứng rõ ràng cho thấy cần chỉ định phẫu thuật mở bụng hoặc cơ chế chấn thương là nhỏ, chẩn đoán hình ảnh thường là siêu âm hoặc CT thường được yêu cầu sau chấn thương đụng dập hoặc vết thương xuyên đau tăng lên hoặc dấu hiệu lâm sàng gợi ý, tình trạng xấu đi, hãy nghi ngờ biến chứng muộn.
Chấn thương ngực gây ra khoảng 25% trường hợp tử vong do chấn thương ở Mỹ. Nhiều chấn thương ngực gây tử vong trong những phút đầu tiên hoặc vài giờ sau chấn thương; những chấn thương này thường xuyên có thể được điều trị ngay tại chỗ bằng các phương pháp dứt điểm hoặc tạm thời mà không cần đào tạo phẫu thuật phức tạp. Chấn thương ngực có thể là kết quả của chấn thương vật tù hoặc xuyên thấu. Những chấn thương ngực quan trọng nhất bao gồmNhiều bệnh nhân bị đồng thời cả tràn dịch màng phổi và tràn khí màng phổi hemopneumothorax. Hầu hết tỉ lệ mắc và tử vong do chấn thương ngực có thể xảy ra do các tổn thương vào cơ quan hô hấp, tuần hoàn, hoặc cả hai. Hô hấp có thể bị gây tổn thương bởi Tổn thương trực tiếp lên phổi hoặc đường hô hấpThay đổi kiểu thởHệ tuần hoàn có thể bị suy giảm bởi Chảy máuGiảm tuần hoàn máu tĩnh mạch về thương tim trực tiếp Chảy máu, như xuất hiện ở bệnh tràn máu màng phổi, có thể nặng, gây ra sốc Sốc Sốc là tình trạng suy giảm tưới máu cơ quan với kết quả là rối loạn chức năng tế bào và tử vong. Cơ chế có thể làm giảm khối lượng tuần hoàn, giảm cung lượng tim, và giãn mạch, đôi khi shunt... đọc thêm hô hấp cũng bị ảnh hưởng nếu tràn máu màng phổi là lớn. Giảm tĩnh mạch trở lại tim làm giảm đổ đầy tâm trương, gây hạ huyết áp. Giảm máu tĩnh mạch trở về có thể xảy ra do tăng áp lực trong lồng ngực khi tràn khí màng phổi dưới áp lực hoặc tăng áp lực dưới màng tim trong bệnh cảnh chèn ép tim Chèn ép tim Chèn ép tim là sự tích tụ máu trong khoang màng ngoài tim có thể tích và áp suất đủ để làm giảm thể tích đổ đầy tâm trương. Bệnh nhân thường hạ huyết áp, tiếng tim mờ, và tĩnh mạch cổ giãn.... đọc thêm . Suy tim Suy tim HF Suy tim HF là một hội chứng rối loạn chức năng tâm thất. Suy thất trái LV gây khó thở và mệt mỏi và suy thất phải RV gây tích tụ dịch ngoại vi và tích tụ dịch trong ổ bụng; các tâm thất... đọc thêm và/hoặc dẫn truyền bất thường có thể là kết quả của chấn thương tim Chấn thương tim Chấn thương tim là chấn thương ngực gây đụng dập cơ tim, buồng tim, rách van tim. Đôi khi một chấn thương vào thành ngực trước gây ngừng tim mà không có tổn thương cấu trúc commotio cordis... đọc thêm gây tổn thương cơ tim hoặc van tim. Các triệu chứng bao gồm đau, thường nặng hơn khi thở nếu thành ngực bị tổn thương, và đôi khi khó thở. Những triệu chứng thực thể chung bao gồm đau ngực, bầm dập và suy hô hấp; hạ huyết áp hoặc sốc có thể xuất quản có thể bị đẩy lệch sang bên gặp trong tràn khí màng phổi dưới áp lực. Đánh giá lâm sàngX-quang ngựcĐôi khi các kết quả chẩn đoán hình ảnh khác ví dụ, CT, siêu âm, chụp hình động mạch Năm bệnh cảnh có thể lập tức đe dọa tính mạng và có thể xử lí nhanh chóng Tràn máu màng phổi nhiềuKhông được thăm dò vết thương ngực hở. Tuy nhiên, vị trí của chúng giúp dự đoán nguy cơ tổn thương. Những vết thương có nguy cơ cao là những vết thương giữa các núm vú hoặc xương bả vai và những vết thương đi qua thành ngực từ bên này sang bên kia. Những vết thương như vậy có thể gây thương tích cho các mạch máu lớn, tim, cây khí phế quản và hiếm hơn là thực nhân có triệu chứng một phần hoặc toàn bộ đường thở bị tắc nghẽn sau chấn thương cần được đặt nội khí quản ngay lập tức để kiểm soát đường bệnh nhân khó thở, các tổn thương nghiêm trọng cần được đánh giá khi khảo sát tổn thương bao gồm Tràn khí màng phổi áp lựcTràn khí màng phổi mởTràn máu màng phổi nhiềuMảng sườn di động Đánh giá đơn giản, nhanh chóng ở bệnh nhân bị chấn thương ngực và suy hô hấp trong lần khám sơ bộ ban đầu. Tràn máu màng phổi nhiềuTràn khí màng phổi áp lựcChèn ép tim Đánh giá đơn giản và nhanh chóng đối với chấn thương ngực ở bệnh nhân bị sốc khi khám sơ bộ ban đầu. * Cần loại trừ xuất huyết ở tất cả các bệnh nhân bị sốc sau chấn thương nặng, bất kể chấn thương ngực có thể gây sốc được xác định.†Sự giãn tĩnh mạch cổ có thể vắng mặt ở những bệnh nhân bị sốc giảm thể tích. Điều trị các thương tích ảnh hưởng đến đường thở, nhịp thở, hệ tuần hoàn bắt đầu trong lúc khám sơ bộ. Sau khi khám ban đầu, bệnh nhân được đánh giá lâm sàng chi tiết hơn về các tổn thương nặng khác của ngực cũng như các biểu hiện ít nghiêm trọng hơn tổn thương trong khi khám lần đầu. Công thức máu thường được thực hiện nhưng chủ yếu có giá trị để phát hiện đang chảy máu. Kết quả của khí máu động mạch giúp theo dõi bệnh nhân bị giảm oxy máu hoặc suy hô hấp. Marker tim ví dụ, troponin, CPK-MB có thể giúp loại trừ chấn thương tim. Điện tâm đồ thường được thực hiện cho chấn thương ngực nghiêm trọng hoặc tương thích với chấn thương tim. Tổn thương tim có thể gây rối loạn nhịp tim, rối loạn dẫn truyền, ST bất thường, hoặc kết hợp nhiều tổn thương. Chăm sóc hỗ trợĐiều trị các thương tích cụ thểCác thương tích đe dọa đến mạng sống ngay lập tức cần được điều trị tại chỗ vào thời điểm chẩn đoán Suy hô hấp khi nghi ngờ tràn khí màng phổi hở Bịt kín vết thương ngực hở sau đó là dẫn lưu màng lập tức mở lồng ngực có thể được xem xét cho bệnh nhân nếu bác sĩ lâm sàng thành thạo trong phẫu thuật và bệnh nhân có một trong các dấu hiệu sau Vết thương thấu ngực cần hồi sức tim phổi trong vòng < 15 phútVết thương xuyên thấu không thuộc ngực cần hồi sức tim phổi < 5 phút Chấn thương đụng dập cần hồi sức tim phổi < 10 phútHuyết áp tâm thu hạ kéo dài < 60 mm Hg do nghi ngờ chèn ép tim, xuất huyết, hoặc tắc tĩnh mạch do khí Nếu không có bất kỳ tiêu chuẩn nào trong các tiêu chí này thì dẫn lưu màng phổi là chống chỉ định bởi vì thủ thuật này có những nguy cơ đáng kể ví dụ như truyền bệnh qua đường máu, thương tích cho bác sĩ lâm sàng và chi phí.
chấn thương tiếng anh là gì